Trưởng lão Thích Thông Lạc cuộc đời và đạo nghiệp – Lời nói đầu (P.1)

LỜI NÓI ĐẦU

Suốt bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, đất nước Việt Nam chúng ta đã phải chống chọi với biết bao sự hà khắc, nghiệt ngã của thiên nhiên, thời tiết như nắng cháy, mưa sa, bão giông, lũ lụt. Bên cạnh đó, đã nhiều lần phải đương đầu với các cuộc xâm lăng của ngoại bang, không mấy khi được thảnh thơi, ngơi nghỉ. Đúng như lời bài hát Đất Nước Tôi: Sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa.

Hay, hai câu thơ:

Xã tắc hai phen chồn ngựa đá

Non sông nghìn thuở vững âu vàng.

Sau khi cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi, Vua Trần Nhân Tông cùng các quần thần đến bái yết tại Chiêu Lăng (Lăng Trần Thái Tông), nhìn con ngựa đá lấm bùn đất, ông đã hồi tưởng lại hai cuộc chiến tranh chống quân Nguyên Mông vô cùng gian khổ và cũng vô cùng oanh liệt mà ông đã trực tiếp chỉ huy, chiến chinh trên lưng ngựa, nên đã hứng khởi làm hai câu thơ trên.

Hay, câu nói nổi tiếng của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam Lê Văn Dỵ: Đâu có giặc là ta cứ đi.

Dù gian nan, cực khổ, hiểm nguy đến mấy, trong bất kỳ điều kiện nào, hoàn cảnh nào, thời kỳ nào … những người con đất Việt cũng đều thể hiện lòng yêu nước cao độ, phát huy bản lĩnh trí tuệ, mưu trí, dũng cảm để vượt qua và giành chiến thắng. Không bao giờ chịu cúi đầu, lùi bước, khuất phục trước thiên nhiên và họa xâm lăng, đã viết nên những trang sử vàng chói lọi, đời đời bất diệt.

Các thế hệ người Việt Nam kế tiếp nhau, trước sau như một, sẵn sàng xả thân, hiến dâng trọn cuộc đời mình vì sự trường tồn của Tổ quốc:

Tuốt gươm không chịu sống quỳ

Tuổi xuân chẳng tiếc xá chi bạc đầu

Lớp cha trước, lớp con sau

Đã thành đồng chí chung câu quân hành.

Thơ Triệu Trường Giang

Trong kiệt tác “Bình Ngô đại cáo”, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi viết: Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, nhưng hào kiệt không bao giờ thiếu.

Đúng vậy, trong suốt chiều dài lịch sử bốn ngàn năm, từ khi lập nước đến nay, đất nước ta đã sản sinh ra biết bao những người con ưu tú, anh hùng hào kiệt cả nam và nữ, cả trẻ và già, trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học … đã làm rạng danh non sông đất nước, được nhân dân trên toàn thế giới mến yêu, khâm phục và ngưỡng mộ, đó là: Các vua Hùng, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên giáp, Ngô Bảo Châu…

Ở đây, chúng tôi muốn nói đến một người Việt Nam trên lĩnh vực Phật giáo cực kỳ vĩ đại và nổi tiếng, nhưng lại rất thầm lặng và rất đỗi khiêm nhường, ít người biết đến, Ngài được ví như hình ảnh cây lúa trĩu bông là cây lúa cúi đầu thấp nhất.

Tuy nhiên, trong trường hợp để bảo vệ một sự thật, một chân lý thì Ngài lại vô cùng mạnh mẽ, chấp nhận mọi sự thiệt thòi và mất mát, thậm chí là nguy hiểm đến sinh mạng của mình. Một mình Ngài tả xung, hữu đột trước cả một rừng ma chướng, vượt qua mọi sự gian nan, thách thức để đi đến đích cuối cùng.

Chọc trời khuấy nước mặc dầu

Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.

Truyện Kiều – Nguyễn Du

Đó là, Trưởng lão Thích Thông Lạc, Viện chủ Tu viện Chơn Như, địa chỉ ấp Gia Lâm, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, một tu sĩ Phật giáo chân chính chứng quả A La Hán có một không hai, không chỉ của Việt Nam mà trên toàn thế giới cho đến tại thời điểm này!

Như mọi người đã biết, Phật giáo ra đời cách đây 2.600 năm, trải qua bao biến cố, thăng trầm của lịch sử, kinh sách Phật giáo đã bị tam sao thất bản, bị cắt xén hoặc thêm thắt làm cho giáo lý của Đức Phật bị sai lệch, không còn nguyên gốc.

Phật giáo du nhập vào Việt Nam bằng hai con đường:

Một là, từ Lào, Cam-pu-chia, Thái Lan, Miến Điện (My-an-ma) sang;

Hai là, từ Trung Quốc sang.

Người Việt Nam chúng ta tiếp nhận giáo lý của đức Phật trong hoàn cảnh đất nước ta bị Trung Quốc xâm lược và cai trị. Kinh sách của Phật đã bị người Trung Quốc lồng ghép các phong tục, tập quán, lễ nghi, các triết lý Nho giáo như: Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Mạnh Tử… của các triều đại phong kiến Trung Quốc vào, nên kinh sách của Phật thay đổi quá nhiều. Họ dựng nên thế giới siêu hình: Thần, Thánh, Tiên, Phật, Ngọc Hoàng, Thượng Đế, Ma quỷ, Hà bá, Thổ địa, Linh hồn, Tây phương cực lạc, Địa ngục… đặc biệt là họ dựng nên Đức Phật Di Lặc, giáo chủ của đạo Phật, chứ không phải là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát… hoàn toàn không có thật trong lịch sử nhân loại.

Người Việt Nam chúng ta hoàn toàn không biết được đâu là chánh pháp của Phật, đâu là ngoại đạo.

Số lượng người tu theo Phật giáo rất đông, nhiều không kể xiết, nhưng chất lượng thì chẳng có gì, tri kiến giải thoát không có, hiểu biết về Phật giáo rất mù mờ, mê tín, lạc hậu. Họ chỉ biết lễ lạy, cầu an, cầu siêu, cầu Thần,

Thánh, Tiên, Phật để được phù hộ, độ trì mà không thực hành pháp tu đạo đức nhân bản, nhân quả. Giáo lý của Phật bị Thần,Thánh hóa, mất đi sự tự lực giải thoát của con người, cuộc sống của con người hoàn toàn nương tựa vào tha lực, vào thế giới Thần, Thánh, tự đưa mình đến chỗ u mê sầu khổ.

Đúng như lời dạy của Đức Trưởng lão: “Chỉ có pháp sai, chứ không có người sai”. Nếu pháp dạy đúng thì đâu đến nỗi suốt 25 thế kỷ qua các thế hệ người Việt Nam chúng ta đã phải đắm chìm trong sự u mê! Nhưng họ không biết do đâu mà mình khổ, tất cả đều đổ lỗi tại Trời, mỗi người một số phận đều do Trời định đoạt.

Ngẫm hay muôn sự tại Trời

Trời kia đã bắt làm người có thân

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Truyện Kiều – Nguyễn Du

May mắn thay, giáo pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã được Trưởng lão Thích Thông Lạc là người Việt Nam, một tu sĩ đệ tử của Phật cùng nhiều vị chân tu khác làm sống lại trên đất nước Việt Nam vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, bằng tấm gương của chính mình tu tập, rèn luyện gian khổ, giữ gìn giới luật của Phật rất nghiêm túc, sống thiểu dục tri túc, tâm ly dục ly bất thiện pháp hoàn toàn.

Nhờ chứng đạt chân lý của đạo Phật, với trí tuệ Tam minh, Đức Trưởng lão đã thấu hiểu chân kinh, thông suốt lý nhân quả. Với lòng thương xót về nỗi khổ đau của chúng sinh vô cùng, vô tận, Đức Trưởng lão lại dấn thân mình vào sự nghiệp trở lại cội nguồn, cũng không kém phần gian nan, vất vả, cam go, quyết liệt.

Thích Thông Lạc

Việc đầu tiên là dựng lại đường lối tu tập của đạo Phật (Tạo duyên giáo hóa chúng sinh).

Đức Trưởng lão cho tiến hành xây dựng Tu viện để có nơi ăn, chốn ở ổn định cho việc tu tập của cư sĩ, tu sĩ.

Mở các lớp đào tạo, dạy đạo theo chương trình Bát Chánh Đạo từ thấp, đến cao. Phát huy giá trị đích thực, nhân văn cao cả của đạo Phật, bằng việc xây dựng:

– Nguyên lý về đạo đức Nhân bản – Nhân quả.

– Đạo đức chân thật: làm người, làm thánh.

– Không ngừng tạo duyên để hóa độ chúng sinh theo các tiêu chí đã đặt ra.

Khi thấy việc hóa độ chúng sinh thuận lợi, Đức Trưởng lão đã tiến hành bước tiếp theo là dựng lại chân pháp của Đức Phật. Đức Trưởng lão dành trọn cuộc đời còn lại của mình cho việc này:

– Soạn thảo chân kinh: Những lời gốc Phật dạy (4 tập).

– Soạn luận kinh: Đường về xứ Phật (10 tập).

– Soạn luật: Giới luật căn bản.

– Soạn pháp: Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.

Đức Trưởng lão khẳng định đạo Phật chỉ có một pháp môn duy nhất đó là Giới – Định – Tuệ và chỉ có ba mươi bảy phẩm trợ đạo là ba mươi bảy pháp môn dạy cách thức tu tập từ thấp, đến cao. Ngoài Giới – Định – Tuệ và ba mươi bảy phẩm trợ đạo thì không phải là của đạo Phật chân chính.

– Soạn thảo từng pháp hành, rất rõ ràng, chi tiết để thực hành tu tập từ thấp, đến cao, từ đơn giản, đến tổng hợp.

Đức Trưởng lão rất quan tâm và sâu sát đến tất cả các lĩnh vực, đến từng đối tượng cụ thể, qua những bức tâm thư, với những lời tâm huyết yêu thương, tha thiết như:

– Trả lời vấn đạo.

– Thư gửi các vị chức phẩm cao trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

– Các cấp chính quyền.

– Các cơ quan chức năng của nhà nước.

– Tu sĩ ngoại đạo.

– Tu sĩ, cư sĩ phật tử bốn phương.

– Thông điệp chung: kêu gọi bảo vệ hòa bình, về đạo đức, môi trường, văn hóa, xã hội, khoa học…

Sau khi tu hành chứng đạo, Đức Trưởng lão đã dùng trí tuệ Tam Minh quan sát toàn bộ không gian, vũ trụ thì đều chỉ thấy có các hành đang hoạt động theo quy luật của nhân quả (vũ trụ).

Từ đó Đức Trưởng lão đã khẳng định thế giới siêu hình không có! Đồng thời mạnh mẽ vạch trần và đập tan mọi luận điểm về thế giới siêu hình của kinh sách Phật giáo phát triển. Đức Trưởng lão đã làm sáng tỏ thêm lời tuyên bố của Đức Phật: “Ba mươi ba cõi Trời là tưởng tri chứ không phải liễu tri!”

Ánh sáng của nền đạo đức Nhân bản – Nhân quả soi rọi khắp muôn nơi, xua tan màn vô minh tối đen dày đặc phủ trùm vạn hữu hơn 25 thế kỷ qua.

Với lòng thương yêu chúng sinh vô bờ bến, Trưởng lão đã vượt qua bao khó khăn, gian khổ, sóng gió của cuộc đời, để tu tập làm chủ được sinh tử, để dựng lại chánh pháp của Đức Phật Thích Ca và đã tạo duyên giáo hóa chúng sinh hơn 33 năm qua (1980 – 2013), sau khi Ngài tu chứng đạo cho đến tận ngày cuối cùng của cuộc đời (ngày 2 tháng Một năm 2013).

Công sức, mồ hôi, nước mắt và cả bằng máu của Trưởng lão đã đổ ra trên mảnh đất này, để đem lại hạnh phúc cho biết bao con người đang đau khổ trước quy luật sinh, già, bệnh, chết.

Đến nay, đã có hàng chục vạn người ở trong nước và ngoài nước đã biết được giáo pháp chân chính của Đức Phật Thích Ca do Trưởng lão Thích Thông Lạc dựng lại. Họ đã nếm được mùi vị giải thoát thật sự do pháp tu mang lại, vượt thắng mơ hồ, ảo tưởng bằng sức tự lực của chính bản thân mình, không nương tựa vào tha lực, vào sự cứu độ của Thần, Thánh, mà trước đây mình chưa từng được nếm trải.

Tóm lại: Giáo pháp của Đức Phật Bổn sư Thích Ca Mâu Ni do Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc dựng lại, đó là nền đạo đức nhân bản, nhân quả, sống không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh; Không có thế giới siêu hình; Thiện-ác, lành-dữ, phúc-họa đều do những hành động gốc của con người tạo ra từ ý, miệng, thân.

Bước đầu đã làm chủ được cuộc sống, trong gia đình mình, cha mẹ, vợ chồng, con cái rất an ổn và hạnh phúc. Đa số phật tử đã làm chủ được bệnh tật trên thân, thậm chí cả những căn bệnh quái ác mà y học đành bó tay như: Ung thư, tiểu đường, bệnh gút, liệt toàn thân… nên họ có lòng tin tuyệt đối vào Đức Phật và Đức Trưởng lão.

Những gương hạnh tu tập sống không làm khổ mình, không làm khổ người, không làm khổ tất cả chúng sinh, có cuộc sống ngày càng an vui, hạnh phúc, làm chủ được bệnh tật, vượt qua đau khổ … mỗi ngày nhiều hơn trên đất nước Việt Nam và ở nước ngoài, minh chứng rằng giáo pháp của Đức Phật Thích Ca do Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc dựng lại và triển khai trong 35 năm qua là chân chính, là thực tế sinh động, làm sáng tỏ chân pháp của Đức Phật Thích Ca, khẳng định những gì Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc đã triển khai nền đạo đức nhân bản, nhân quả trong 35 năm qua là một công đức vô cùng to lớn đối với phật tử. Mọi người con Phật chúng ta ở phắp mọi miền của đất nước, cũng như ở nước ngoài hãy ghi nhận công đức này và nguyện làm cho nền đạo đức nhân bản, nhân quả này mãi mãi trường tồn ở trên thế gian này như ước nguyện của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc trước khi nhập diệt.

Đó là cách tốt nhất, mà chúng ta tri ân công đức của Đức Phật và Đức Trưởng lão.

Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc đã chỉ dạy chúng ta phải biết yêu quê hương đất nước, phải biết ơn tổ tiên và các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước, để cho chúng ta có được cuộc sống thanh bình, an vui, hạnh phúc như ngày hôm nay. Tuy nhiên, như thế là chưa đủ, vì người dân nước ta còn mê tín lạc hậu, cho rằng có thế giới siêu hình, có linh hồn sau khi chết, nên đã để uổng phí nhiều công sức, hao tiền tốn của vào những việc làm vô ích đó. Theo số liệu của các cơ quan truyền thông, cả nước mỗi năm tiêu tốn tới hàng chục tỷ đồng vào việc đốt hương, vàng mã, cầu cúng lễ bái, dâng sao giải hạn…

Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc thật sự xót xa. Bởi vậy, Ngài đã dồn toàn bộ sức lực, tâm trí của mình để dựng lại chánh pháp của Đức Phật Thích Ca và tạo duyên giáo hóa chúng sinh với khát vọng cháy bỏng loại trừ mê tín, dị đoan ra khỏi đời sống xã hội, người Việt Nam có Phật giáo riêng mang đậm bản sắc của dân tộc Việt Nam, không phải vay mượn thứ Phật giáo lai căng, sai lệch của nước ngoài.

Tuy nhiên, trong khi thực hiện ước nguyện đó, ngài đã gặp vô vàn khó khăn. Sóng gió Chơn Như liên tục xảy ra. Song, với trí tuệ Tam Minh, Ngài đã lường trước mọi sự việc nên đã vượt qua tất cả.

Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc đã viết trên ba mươi đầu sách, hàng trăm bức thư gửi các cấp chính quyền, các cơ quan chức năng, các tu sĩ ngoại đạo, các tăng, ni và cư sĩ Phật tử … không ngoài mục đích là phát triển Phật Giáo.

Những sách của Trưởng lão viết thường chọn những đề tài mà mọi người chưa hiểu, hoặc hiểu sai, vượt lên mọi phong tục tập quán từ xưa đến nay của các triết lý tôn giáo.

Nhờ đó, khi đọc sách của Trưởng lão, chúng ta thấy mới mẻ, phong phú, càng đọc càng bất ngờ và say mê. Trong số trên 30 đầu sách, có loại 1 tập, có loại 2 tập, có loại 4 tập, có loại 10 tập.

Mỗi đầu sách là mỗi đề tài theo từng lĩnh vực, từng pháp môn khác nhau rất rõ ràng, rành mạch.

Sau khi Ngài nhập diệt, Tu viện Chơn Như vẫn đứng vững, tiếp tục thực hiện đường lối tu tập mà Ngài đã chỉ dạy một cách xuất sắc, ngày càng phát triển lớn mạnh.

Những nỗ lực của Ngài đã được đền đáp, đến nay số lượng người tu tập theo giáo pháp của Đức Phật Thích Ca tăng lên rất nhanh, đem đến lợi ích thiết thực, nên họ tin tưởng tuyệt đối vào chánh pháp của Đức Phật.

Để tri ân công đức của Ngài, Tu viện Chơn Như xin được xuất bản cuốn sách: “Trưởng lão Thích Thông Lạc – Cuộc đời và đạo nghiệp” để những người có duyên đón đọc cuốn sách này, biết được chánh pháp của Đức Phật Thích Ca do Trưởng lão Thích Thông Lạc, người Việt Nam chúng ta dày công dựng lại, giúp cho những ai muốn tìm cầu giải thoát khi tu tập không bị lầm đường lạc lối.

Cuốn sách Trưởng lão Thích Thông Lạc – Cuộc đời và đạo nghiệp có ý nghĩa bởi Đức Trưởng lão đã lại thắp sáng lên ngọn đèn chánh pháp qua trên 30 đầu sách, 61 cuốn băng do Đức Trưởng lão viết và thuyết giảng.

Nếu viết ngắn gọn quá thì không nêu hết được công đức của Đức Trưởng lão. Viết dài quá thì cuốn sách sẽ rất dày và lại có những bất cập:

– Một là, viết theo sự hiểu biết của mình sẽ rơi vào tưởng giải, kiến giải.

– Hai là, đưa hết các nội dung của trên 30 đầu sách vào thì không cần thiết, vì đã có sách của Đức Trưởng lão rồi.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng tìm được phương pháp để viết, đó là giới thiệu tất cả các đầu sách của Đức Trưởng lão, kèm theo hình ảnh bìa cùng với lời nói đầu của từng cuốn sách đó để minh họa. Riêng các bộ sách Những lời gốc Phật dạy (4 tập), Đường Về Xứ Phật (10 tập), Người Phật tử cần biết (2 tập), Đạo đức làm người (2 tập), Lòng yêu thương (2 tập), Giới đức làm người (2 tập), Những bức tâm thư (3 tập), mỗi tập sách có lời nói đầu dài tới mười trang, nên chúng tôi chỉ nêu lời nói đầu cuốn sách tập 1 của các bộ sách trên mà thôi.

Mặc dù cách trình bày rất đơn giản, ngắn gọn, nhưng lại nêu được đầy đủ công trình đồ sộ mà Đức Trưởng lão đã tạo dựng nên. Chỉ nhìn vào các đầu sách này chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy được công sức và sự cống hiến to lớn hết mình của Đức Trưởng lão cho nền Phật giáo nước nhà.

Cuốn sách Trưởng lão Thích Thông Lạc – Cuộc đời và đạo nghiệp được bố cục làm ba phần:

– Phần một: Thân thế Trưởng lão Thích Thông Lạc.

Phần này có ba mục:

+ Mục 1: Gia phả họ Lê.

Mục này nói về sự hình thành của dòng họ Lê tại Bàu Trâm, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp Gia lâm, xã Gia Lộc, Trảng Bàng, Tây Ninh);

Mục 2: Lịch sử Chùa Am

Mục này nói về sự hình thành của Chùa Am qua từng thời kỳ lịch sử, gắn liền với từng vị trụ trì qua các đời của dòng họ Lê, cho đến tận ngày nay.

+ Mục 3: Tiểu sử đức Trưởng lão Thích Thông Lạc

Mục này ghi lại quá trình được sinh ra, lớn lên đi học và tham gia các hoạt động yêu nước, song song với việc tu hành theo Phật giáo.

– Phần hai: Trưởng lão Thích Thông Lạc dựng lại Chánh pháp của Như Lai.

Phần này có hai mục:

+ Mục 1: Tạo duyên giáo hóa chúng sinh.

+ Mục 2: Dựng lại chánh pháp của Như Lai.

Phần hai, nêu lên quá trình phát triển Phật giáo của đức Trưởng lão từ khi tu chứng đạo (tháng 9 năm 1980) cho đến ngày cuối cùng khi Ngài nhập diệt (ngày 02 tháng Một năm 2013). Phần này là phần trọng tâm, cơ bản và cốt lõi xuyên suốt trong 33 năm qua kể từ khi Đức Trưởng lão tạo duyên giáo hóa chúng sinh và dựng lại chân pháp của Đức Phật. Toàn bộ giáo lý của Đức Phật đã được Đức Trưởng lão viết lại trong hơn 30 đầu sách và thuyết giảng được ghi âm tại 61 cuốn băng. Do số lượng sách nhiều, thời lượng thu âm dài, nên chúng tôi không thể đưa tất cả các nội dung ở trên 30 đầu sách và 61 cuốn băng vào trong cuốn sách này, mà chỉ nêu các đầu sách cùng với lời nói đầu của từng cuốn sách như chúng tôi đã trình bày trên.

– Phần ba: Tình thầy trò. Phần này có 3 mục

+ Mục 1: những câu chuyện tình cảm sâu đậm với lòng thương yêu vô bờ bến của đức Trưởng lão đối với tăng, ni, cư sĩ phật tử và ngược lại.

 Mục 2: Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc nhập diệt, nêu lên đám tang của đức Trưởng lão rất đơn giản, trang nghiêm, thanh tịnh.

+ Mục 3: Tri ân công đức của Đức Trưởng lão Thích Thông Lạc

Với lòng thành kính biết ơn, tăng, ni, cư sĩ phật tử trong cả nước đã tổ chức lễ mừng sinh nhật 28 tháng 5 và lễ tưởng niệm ngày nhập diệt mùng 2 tháng Một hàng năm của Đức Trưởng lão.

Tóm lại: Công lao to lớn của Đức Trưởng lão chúng tôi chỉ có thể đúc kết lại như sau:

Toàn bộ giáo lý của Đức Phật mà Đức Trưởng lão dựng lại được viết ra đầy đủ, cụ thể, rõ ràng, chi tiết ở trên 30 đầu sách và 61 cuốn băng mà chúng ta đã có phước duyên được đọc, được nghe, được học và tu tập làm theo, là trí tuệ tâm huyết một đời vì đạo nghiệp của Đức Trưởng lão.

Cuốn sách không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong các quý vị thông cảm, lượng thứ và đóng góp ý kiến để lần tái bản sau được hoàn mỹ hơn.

Xin trân trọng cảm ơn./.

Mùa thu năm 2016

Phật tử Nguyên Thủy

Tu viện Chơn Như.


Trích trong sách Trưởng Lão Thích Thông Lạc Cuộc Đời Và Đạo Nghiệpphần Lời Nói Đầu từ trang 4 – trang 18.

Sách do Phật Tử Nguyên Thủy Tu Viện Chơn Như Biên Soạn

Nhà Xuất Bản Hồng Đức

(BBT sao y nguyên sách in)

Trưởng lão Thích Thông Lạc cuộc đời và đạo nghiệp – Lời nói đầu (P.1)
5 (100%) 1 vote[s]